E-SOLAR

Menu

TIN TỨC NĂNG LƯỢNG

Những lợi ích thiết thực do điện mặt trời mái nhà đem lại & Đề xuất bổ sung một số giải pháp phát triển ĐMTMN
Những lợi ích thiết thực do điện mặt trời mái nhà đem lại & Đề xuất bổ sung một số giải pháp phát triển ĐMTMN

Những lợi ích thiết thực do điện mặt trời mái nhà đem lại & Đề xuất bổ sung một số giải pháp phát triển ĐMTMN

1.Những lợi ích thiết thực do điện mặt trời mái nhà đem lại

 Bao gồm lợi ích cho người dân (Chủ đầu tư) và cho cả hệ thống điện quốc gia vốn đang trong tình trạng khan hiếm nguồn cung cấp do nhiều nguồn điện dự kiến xây mới không được ủng hộ của công chúng nên chưa khởi công và nhiều nguồn đang xây dựng nhưng chậm tiến độ theo quy hoạch.

- Lợi ích cho người dân

+ Giảm chi phí tiền điện hàng tháng do điện được sản xuất và sử dụng trực tiếp vào giờ cao điểm hoặc giảm giá mua điện bậc cao (giá của các bậc 4,5,6).

+ Tăng thu nhập nhờ bán lại phần sản lượng điện dư, không sử dụng cho EVN với giá 1.940 đồng/ kWh (8,38 UScent), áp dụng đối với các dự án điện mặt trời mái nhà có thời gian nghiệm thu đưa vào vận hành và phát điện từ 01/7/2019 đến 31/12/2020, Hợp đồng mua bán điện mặt trời mái nhà được ký với đơn vị Điện lực được EVN ủy quyền trong 20 năm kể từ ngày vận hành phát điện, tỷ giá Đô la quy đổi được lấy theo số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ngày cuối cùng của năm trước để tính cho năm tiếp theo.

+ Không tốn diện tích đất khi lắp đặt (điện mặt trời mái nhà chiếm 5-6 m2/1kWp; điện mặt trời trên mặt đất chiếm khoảng 11-13 m2 mặt đất /1kWp)

+ Chống nóng hiệu quả cho công trình.

- Lợi ích cho đất nước và Hệ thống điện quốc gia

+ Giảm bớt được phụ tải đỉnh của hệ thống điện tại các giờ cao điểm, do đó giảm áp lực huy động nguồn cung cấp cho hệ thống điện vào giờ cao điểm, phát huy hết hiệu suất của nguồn phát vào giờ thấp điểm, giảm áp lực cho cơ quan điều độ hệ thống điện, tăng khả năng thu hồi vốn đầu tư, đảm bảo an sinh xã hội.

+ Giảm quá tải cho đường dây truyền tải trong giờ cao điểm, giảm bớt áp lực đầu tư nâng cấp đường dây truyền tải.

+ Góp phần bảo vệ môi trường.

+ Giảm áp lực trong Quy hoạch sử dụng đất tại các địa phương.

2. Đề xuất bổ sung một số giải pháp phát triển ĐMTMN

Tuy nhiên việc phát triển năng lượng tái tạo, nhất là điện mặt trời, trong đó có ĐMTMN vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định và phát triển chưa tương xứng với tiềm năng to lớn, đặc biệt là ở khu vực miền Trung và miền Nam.

Đối với ĐMTMN, dù rất dễ làm nhưng cũng chưa đạt được như kỳ vọng vì chi phí đầu tư ban đầu còn khá cao, chưa có sự tham gia, hỗ trợ mạnh mẽ từ các tổ chức tài chính; thị trường sản phẩm, dịch vụ điện mặt trời khá đa dạng nhưng chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể gây khóa khăn cho người dân, doanh nghiệp mong muốn đầu tư.

Để  ĐMTMN tiếp tục phát triển thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết số 55- NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng Quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tác giả bài viết xin đề xuất bổ sung một số giải pháp phát triển triển ĐMTMN như sau:

Về phía chính phủ

Thứ nhất, cần phải ưu tiên phát triển ĐMTMN trong cơ cấu phát triển điện mặt trời nói chung (đã được phân tích trong phần 4.2 ở trên)

Thứ hai, chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể đối với việc lắp đặt ĐMTMN.

Thứ ba, cần gia hạn thời gian cho ĐMTMN và có lộ trình rõ ràng về cơ chế, chính sách cho phân khúc này.

Thứ tư, cần có cơ chế hỗ trợ giá lắp đặt (ban đầu) điện mặt trời mái nhà cho từng vùng miền vì các vùng miền có lượng bức xạ mặt trời khác nhau để ĐMTMN phát triển đồng đều trong cả nước.

Thứ năm,  hiện nay nhiều người dân vẫn chưa hiểu hết về việc lắp đặt và lợi ích của ĐMTMN mang lại, vì vậy, chính phủ cũng như doanh nghiệp nên đa dạng hóa việc tổ chức truyền thông tới cộng đồng, đặc biệt phải truyền thông tới từng hộ gia đình, từ khả năng đầu tư cũng như lợi ích đạt được của mô hình này.

Về phía doanh nghiệp

Xuất phát từ lợi ích chung của xã hội và lợi ích của người dân và doanh nghiệp, EVN đã và đang triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ, khuyến khích đặc biệt với điện mặt trời mái nhà; đơn giản hóa thủ tục đăng ký, cung cấp các dịch vụ đăng ký mua bán điện mặt trời mái nhà trực tuyến.

Hiện nay, trình tự thủ tục đấu nối và mua điện mặt trời rất đơn giản, sau khi lắp đặt, chủ đầu tư có nhu cầu bán điện chỉ cần liên hệ Tổng đài Chăm sóc khách hàng của EVN để được hỗ trợ kiểm tra miễn phí điều kiện hòa lưới, lắp đặt điện kế 2 chiều và ký hợp đồng mua bán điện mặt trời.

EVN đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện website solar.evn.vn để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân, doanh nghiệp có thể tìm hiểu và tiếp cận với mọi thông tin liên quan về điện mặt trời mái nhà trên các ứng dụng công nghệ thông tin và các website chăm sóc khách hàng của EVN.

Với tiềm năng phát triển ĐMTMN  ở Việt Nam rất lớn, EVN xác định rõ việc hỗ trợ phát triển điện mặt trời mái nhà là một trong những chủ trương quan trọng bởi đây là nguồn cung cấp điện hiệu quả, giải pháp thiết thực cho việc đáp ứng nhu cầu điện năng ngày một tăng cao./.

Đỗ Thị  Bích Thủy

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Chính sách phát triển điện mặt trời của một số nước và Việt Nam
Chính sách phát triển điện mặt trời của một số nước và Việt Nam

Chính sách phát triển điện mặt trời của một số nước và Việt Nam

Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng điện phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế  - xã hội ngày một gia tăng, đây chính là thách thức rất lớn cho ngành điện trong bối cảnh nguồn cung năng lượng sơ cấp trong nước như  than đá, dầu khí…. đang cạn kiệt không đủ đáp ứng cho nhu cầu trong nước, thì việc phát triển điện mặt trời (ĐMT) nói chung là nhu cầu tất yếu

 

1.Giới thiệu

Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, nhu cầu sử dụng điện ngày càng nhiều, gây áp lực rất lớn cho ngành Điện. Trong khi nguồn thủy điện gần như  khai thác hết, phát triển nhiệt điện than mới cũng không được sự đồng thuận của công chúng và cơ quan địa phương, dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận đã tạm dừng, thì phát triển nhiệt điện khí và năng lượng tái tạo là một xu hướng tất yếu, phát triển điện mặt trời đặc biệt là điện mặt trời mái nhà đang là một vấn đề “nóng” không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới.

Chính vì vậy, để phát triển điện mặt trời thì việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển, đi trước  là  điều cần thiết trong việc xây dựng chính sách và rút ra bài học thành công cho Việt Nam trong việc phát triển điện mặt trời một cách đúng hướng, hiệu quả và bền vững.

2.Nhìn lại những nước đã phát triển ĐMT như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ.

Trung Quốc:Trước tiên, phải nhìn vào kinh nghiệm phát triển năng lượng sạch của Trung Quốc, nền kinh tế lớn đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) cho thấy, từ chỗ Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch như than, dầu mỏ, khí đốt,… đến nay Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới về sản xuất năng lượng sạch - đặc biệt là năng lượng mặt trời.

Tính đến năm 2019, Trung Quốc sở hữu 6 trong 10 công ty sản xuất mô-đun năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, vào năm 2018, Trung Quốc là đất nước đầu tiên lắp đặt hơn 100 gigawatt (GW) công suất năng lượng mặt trời. Chính phủ Trung Quốc đã ưu tiên đầu tư vào năng lượng mặt trời vì nó cho phép quốc gia này trực tiếp giải quyết những vấn đề về ô nhiễm không khí, thay đổi khí hậu và an ninh năng lượng, và các lợi ích liên quan đến tài chính và môi trường. Hơn nữa, để đáp ứng các cam kết trong Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, Trung Quốc buộc phải tăng tỷ lệ năng lượng mặt trời trong năng lượng tổng hợp từ 2,3% năm 2015 lên 20% vào năm 2030. Điều này sẽ giảm bớt nhu cầu về  xây dựng các nhà máy nhiệt điện đốt mới.

Để có thể đạt được mục tiêu này, Trung Quốc đã thông qua các kế hoạch toàn quốc nghiêm ngặt. Chương trình Ánh sáng (Brightness Program) được đưa ra vào năm 1996. Chương trình này được xem là chính sách quốc gia đầu tiên của Trung Quốc nhằm thúc đẩy việc xây dựng các nhà máy sản xuất năng lượng mặt trời và gió.Vào đầu những năm 2000, Trung Quốc đã chuyển sang tập trung vào sản xuất điện để xuất khẩu, một phần là nhờ nguồn tài trợ từ châu Âu trong việc lắp đặt các tấm năng lượng mặt trời. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cung cấp các gói tín dụng, tạo cơ chế tài chính cho việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, cũng như lập các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia tại một số công ty lớn của nhà nước. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng khuyến khích việc chuyển giao công nghệ, việc chuyển giao này chủ yếu thông qua việc mua thiết bị sản xuất từ các nước công nghiệp phát triển.Với những nỗ lực đó, Trung Quốc bước đầu đã thành công trong ngành công nghiệp sản xuất điện từ các nguồn năng lượng sạch. Từ năm 2000 đến 2006, khoảng 95% mô-đun quang điện mặt trời do Trung Quốc sản xuất được xuất khẩu.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các khoản trợ cấp châu Âu đã sụt giảm và đây chính là cơ hội cho Trung Quốc, giúp quốc gia này tạo ra một thị trường nội địa khổng lồ đối với các tấm pin năng lượng mặt trời.

Vào tháng 7/2009, Bộ Tài chính Trung Quốc đã giới thiệu “Dự án mặt trời vàng- Golden Sun” với nhiều chi tiết cụ thể của chính sách liên quan. Chính sách này cung cấp điện năng cho lưới điện quốc gia từ các dự án quang điện thế hệ mới.

Về nguyên tắc, nhà nước sẽ cho quyền nối lưới và hỗ trợ truyền tải, phân phối điện từ các dự án quang điện thế hệ mới. Nhà nước cung cấp các khoản trợ cấp tương đương 50% tổng vốn đầu tư cho các dự án trong đô thị. Mức trợ cấp sẽ tăng tới 70% cho các hệ thống quang điện ở vùng sâu, vùng xa chưa kết nối với lưới điện.

Nhằm bình ổn giá điện, Cơ quan năng lượng quốc gia Trung Quốc đã công khai đấu thầu các dự án năng lượng mặt trời trên một số trang Web của Chính phủ. Điều này đã tạo ra một thị trường cạnh tranh khốc liệt, giúp giảm giá bán điện xuống tới 0,45 nhân dân tệ (0,06 USD) mỗi kilowatt giờ (kWh) - mức giá gần với mức giá đối với bán điện từ các nhà máy nhiệt điện than.

Hàn Quốc: Năng lượng tái tạo (NLTT) tại Hàn Quốc được tập trung phát triển chủ yếu là điện mặt trời chiếm tỷ lệ khoảng 85%, còn lại là gió và các nguồn năng lượng tái tạo khác. Hàn Quốc bắt đầu xây dựng và phát triển các chính sách về NLTT từ năm 1987 với việc ban hành đạo luật khuyến khích phát triển các nguồn NLTT. Đến năm 2002, cơ chế giá điện FIT(feed-in-tariff) cho điện gió lần đầu tiên tại Hàn Quốc với giá không đổi trong 5 năm đầu tiên (107.66 KRW/kWh). Đến năm 2003, gia hạn thời gian áp dụng FIT cho điện gió và mặt trời từ 5 năm lên 15 năm. Năm 2010, Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định thay thế cơ chế giá điện FIT bằng cơ chế tiêu chuẩn danh mục đầu tư năng lượng tái tạo - RPS (Renewable Portfolio Standard) và đưa ra lộ trình áp dụng từ cuối năm 2012.

Ngoài cơ chế RPS, REC (Chứng chỉ năng lượng tái tạo - REC-Renewable Energy Certificate). Hàn Quốc triển khai các chính sách/chương trình khác để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo như: i) Chương trình sử dụng năng lượng tái tạo bắt buộc tại các toà nhà công cộng, vào năm 2020 tỷ lệ sử dụng điện từ NLTT là 30%; (ii) Các chương trình trợ cấp ưu đãi cho các hộ gia đình theo vùng miền,  năm 2020 sẽ hỗ trợ khoảng 700.000 hộ gia đình lắp đặt hệ thống điện mặt trời; (iii) Chương trình thử nghiệm hệ thống điện mặt trời mái nhà tại các làng nghề nông nghiệp, phấn đấu có 400.000 hộ gia đình được lắp đặt đến năm 2030.

Nhật Bản: Ngay từ  năm 2008, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện chính sách hỗ trợ cho vay mua nhà sử dụng năng lượng tái tạo với thời gian trả nợ tối đa là 10 năm, trong đó, cho những gia đình cải tạo nhà, chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời được vay số tiền tối đa lên đến 5 triệu Yên, tương đương gần 5.000 USD. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường và giảm giá bán các tấm pin năng lượng mặt trời.

Tháng 8/2011, Nhật Bản đã ban hành Luật Trợ giá (FiT) mua năng lượng tái tạo, khuyến kích người dân tự sản xuất điện mặt trời tại nhà và từ đó xây dựng các trung tâm điện mặt trời lớn, tập trung. Luật FiT cho phép hỗ trợ giá điện sản xuất từ năng lượng mặt trời khi các doanh nghiệp tư nhân muốn đầu tư .

Cụ thể, Chính phủ mua điện sản xuất từ năng lượng mặt trời với giá cao hơn giá thị trường, khoảng 40 Yên/kWp (Kilowatt-peak) cho các dự án có công suất 10 kW trở lên. Đối với các dự án công suất <10 kW, giá mua là khoảng 42 Yên/kWp.Chỉ riêng năm 2016, Chính phủ Nhật Bản dành khoảng 2,3 nghìn tỉ Yên (tương đương 20,5 tỉ USD) hỗ trợ việc mua lại điện mặt trời với giá cao.

Nhật Bản cũng khuyến khích chính quyền các địa phương cùng tham gia các dự án điện mặt trời. Theo báo cáo của Tổ chức phi lợi nhuận “Mạng lưới chủ sở hữu điện mặt trời ở Nhật Bản”, tính đến tháng 7/2013 đã có 277 cơ quan hành chính các cấp ở Nhật Bản (chiếm 15% số lượng cơ quan hành chính của quốc gia này) thực hiện hoặc đồng ý “cho thuê mái nhà” các công trình công cộng, lắp đặt hệ thống pin mặt trời.

Tháng 4/2017, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) giới thiệu đạo luật FiT mới (sửa đổi), trong đó, giảm thuế từ 21 đến 30 Yên/kWp điện tái tạo, tùy thuộc vào quy mô hệ thống. Điều này đã khuyến khích đầu tư từ doanh nghiệp tư nhân vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. 

Chính sách hấp dẫn của Chính phủ Nhật Bản đã thu hút một số lượng lớn các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo, trong đó phổ biến nhất là năng lượng mặt trời. Từ năm 2011 đến năm 2014, công suất lắp đặt điện mặt trời tại Nhật Bản tăng mạnh từ 5.000 MW lên 25.000 MW. Đến nay, đã có khoảng 2,4 triệu khách hàng (bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp…) lắp đặt điện mặt trời mái nhà ở Nhật Bản. 

Trong số các dự án điện mặt trời, 80% là quy mô nhỏ, chủ yếu là công trình lắp đặt trên mái nhà. Hệ thống điện mặt trời mái nhà có nhiều ưu điểm như giảm được tiền thuê đất, không cần thiết phải kí hợp đồng tiêu thụ điện với các công ty điện lực địa phương… Những khách hàng lắp đặt điện mặt trời mái nhà khi không sử dụng hết số lượng điện sản xuất ra, có thể bán cho các công ty điện với mức giá ưu đãi. 

Còn các dự án điện mặt trời ở Nhật Bản có quy mô lớn chỉ chiếm 20% vì gặp nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng, chuyển đổi đất nông nghiệp, khó khăn trong việc hòa lưới điện mặt trời vào lưới điện quốc gia...

Tháng 7/2018, Nhật Bản thông qua kế hoạch chiến lược phát triển năng lượng lần thứ 5 tầm nhìn đến năm 2030 và đến năm 2050. Theo đó, Nhật Bản đã định hướng phát triển năng lượng dựa trên nguyên lí 3 E+S, (Viết tắt của Safety - an toàn, Energy Sercurity - an ninh năng lượng, Enviroment - môi trường, Economic Effeciency - hiệu quả kinh tế). Nguyên lý này cho thấy, Nhật Bản đang hướng đến xác lập cơ cấu cung cầu năng lượng bền vững, giảm gánh nặng kinh tế và thân thiện với môi trường. 

Theo kế hoạch, Nhật Bản tiếp tục duy trì mục tiêu sử dụng đa dạng các nguồn năng lượng. Cụ thể, đến năm 2030, trong cơ cấu nguồn điện, năng lượng tái tạo chiếm từ 22-24%, nhiên liệu hóa thạch 56% và năng lượng hạt nhân từ 20-22%.

Ấn Độ: Cũng đã ban hành rất nhiều chính sách để hỗ trợ việc phát triển điện mặt trời mái nhà tại quốc gia này với tham vọng đạt được 100 GW điện mặt trời vào năm 2022, bao gồm 40 GW từ ĐMTMN.

Chính phủ Ấn Độ đã tổ chức đấu thầu mái nhà trên tất cả các bang để tạo ra thị trường phát triển cho ĐMTMN. Khoảng 2.032 MWp (MegaWatt-peak) công suất đã được phân bổ đến các địa phương, bao gồm 1.361 MW công suất thực đã được triển khai.

Bộ Năng lượng Mới và Tái tạo đã cung cấp 254 - 609 USD/KW trong khuôn khổ cơ chế khuyến khích cho các dự án ĐMTMN  được lắp đặt trên các toà nhà Chính phủ. Các dự án ĐMTMN tại Ấn Độ cũng nhận được sự hỗ trợ lớn về lãi suất, khoản hỗ trợ chi phí đầu tư trung ương (15%) chuẩn bị được thay thế bằng khoản vay có lãi suất thấp hơn (8,5%).

Thậm chí, Chính phủ Ấn Độ còn áp dụng cả thời kì miễn thuế dành cho các doanh nghiệp dựa trên lợi nhuận của các dự án ĐMT trong thời hạn 10 năm liên tiếp trong vòng 15 năm đầu tiên dự án bắt đầu. Chính phủ cũng đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng bang và các bang đã triển khai quy định về cơ chế bù trừ nhằm tích trữ điện năng thừa trên mức tiêu thụ.

Đến các nước trong khu vực ASEAN

Không chỉ ở các quốc gia trên mới nhận thức được vai trò quan trọng của phát triển năng lượng xanh, sạch quyết định đến an ninh năng lượng toàn cầu mà tại khu vực ASEAN, phát triển hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo luôn là vấn đề cấp thiết của các quốc gia Đông - Nam Á, hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng ASEAN xanh và sạch. Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế ASEAN thời gian qua, nhu cầu sử dụng năng lượng của các quốc gia trong khu vực ngày càng lớn. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), mức tiêu thụ năng lượng của ASEAN tăng 60% trong 15 năm qua. Bởi vậy, các quốc gia trong khu vực ASEAN cần nhanh chóng thúc đẩy sử dụng nguồn năng lượng sạch.

Đầu tiên phải nói đến Singapore, một quốc gia điển hình tích cực khuyến khích việc phát triển ĐMT. Năm 2016, Singapore đã đầu tư hơn 700 triệu đô la Mỹ cho các chương trình Nghiên cứu và Phát triển (R&D) trong khu vực công trong 5 năm tới nhằm tìm ra giải pháp bền vững cho đô thị. Nguồn kinh phí này dự kiến sẽ tăng cường năng lực đổi mới của Singapore trong các lĩnh vực như năng lượng sạch, lưới điện thông minh và dự trữ năng lượng. Hiện, nước này đang thử nghiệm xây dựng các nhà máy năng lượng mặt trời trong đô thị và các trạm điện mặt trời nổi trên các hồ chứa, cũng như vận hành thử nghiệm một hệ thống lưới điện lưu trữ thu nhỏ khi các nguồn năng lượng tái tạo bị gián đoạn.

Tại Malaysia, chính sách tổng thể về phát triển năng lượng sạch đã tạo ra nền tảng vững chắc cho việc triển khai các dự án năng lượng tái tạo. Chính sách về năng lượng mặt trời được quy định trong Đạo luật năng lượng tái tạo năm 2011 và được sửa đổi năm 2014 nhằm phù hợp với sự thay đổi của thị trường cũng như việc giảm giá các tấm pin năng lượng.

Ngoài ra, cơ chế thanh toán bù trừ (Metering Net - NEM) đã được đưa ra vào năm 2016 với mục tiêu đạt 500 MW điện mặt trời vào năm 2020 tại bán đảo Malaysia và Sabah. Theo đó, người tiêu dùng có thể  lắp pin mặt trời tạo ra điện năng cho gia đình và bán năng lượng dư thừa cho điện lưới quốc gia. Nhờ các chính sách hỗ trợ về giá, công suất lắp đặt pin mặt trời tại Malaysia đạt 1.356 MW vào năm 2020.

Indonesia cũng đã thông qua luật về năng lượng tái tạo vào đầu năm 2017, trong đó thay đổi mức thuế suất đối với các dự án năng lượng tái tạo. Theo luật mới, mức hỗ trợ FiT sẽ dựa trên chi phí cung cấp điện trung bình của khu vực, nơi dự án điện năng lượng mới được xây dựng. Mức hỗ trợ theo chương trình mới là từ 6,5 đến 11,6 cent/kWh. FiT cũng được ấn định trong suốt thời hạn của hợp đồng mua bán điện (PPA) mà không chịu ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá ngoại hối hay lạm phát.

Luật mới cho phép điện mặt trời cạnh tranh trực tiếp với các nhà máy nhiệt điện đốt than - hình thức sản xuất điện năng phổ biến ở Indonesia. Cơ chế thanh toán bù trừ dành cho hộ gia đình, thương mại sử dụng năng lượng mặt trời trên mái nhà cũng được thông qua vào năm 2013, bắt buộc Tập đoàn điện lực quốc gia Indonesia  phải trả khoản năng lượng dư thừa được sản xuất bởi năng lượng mặt trời vào tài khoản của khách hàng. Với những chính sách này, Indonesia kỳ vọng sẽ bổ sung thêm 870 MW điện mặt trời vào năm 2024.

Ở Philipine, chương trình FiT đã thúc đẩy sự phát triển năng lượng mặt trời lên tầm cao mới. Các quy định về cơ chế thanh toán bù trừ và các tiêu chuẩn kết nối có hiệu lực vào tháng 7 năm 2013 đã làm gia tăng các dự án điện mặt trời cỡ nhỏ tại Philippine. Công suất lắp đặt điện mặt trời là 62 MW vào năm 2014. Với FiT là 21 cent/ kWh, sáu dự án đã được thông qua, đưa công suất điện mặt trời lên 108 MW vào năm 2015. Năm 2016, mức giá FiT điều chỉnh xuống còn 17 cent/ kWh (thời hạn 20 năm và tỷ lệ giảm thuế 0.6%). Kết thúc năm  2016 với công suất điện mặt trời lên tới 903 MW, và dự kiến sẽ đạt đến 3.000 MW vào năm 2022.

Campuchia với chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu về thiết bị sản xuất năng lượng tái tạo, giá thành điện mặt trời tại Campuchia chỉ từ 2.500-3.000 đồng/kWh, trong khi giá điện lưới ở nước này trung bình khoảng 4.000 đồng/kWh. Đây là nguyên nhân làm cho điện mặt trời phát triển mạnh ở đất nước này.

Trong vài năm gần đây, rất nhiều công ty nước ngoài đã đầu tư vào lĩnh vực phát triển điện năng lượng mặt trời tại Campuchia. Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và vốn tự đầu tư của người dân, đến nay Campuchia có tổng số 50 ngàn hệ thống điện mặt trời gia đình được lắp đặt. Do giá điện cao nên rất nhiều doanh nghiệp ở Campuchia đầu tư điện mặt trời để sử dụng bổ sung cùng với điện lưới. Có một số nhà đầu tư còn cung cấp dịch vụ thuê tấm pin mặt trời, đặc biệt là ở các khu công nghiệp.

Năm 2006 Thái Lan là nước đầu tiên trong khối ASEAN áp dụng biểu giá FiT cho năng lượng tái tạo, trong đó các dự án năng lượng mặt trời nhận được FiT cao nhất, với mức 23 cent/kWh cho 10 năm. Sau đó, chương trình này được thay thế bằng chương trình FiT 25 năm với giá 17 đến 20 cent /kWh tùy thuộc vào loại máy phát điện. Năm 2014, với việc giá thành tấm pin năng lượng mặt trời giảm xuống, chính phủ đã giảm giá FiT xuống còn 12 US cent/kWh với tất cả các hợp đồng có thời hạn 25 năm.

Không đứng ngoài cuộc, Việt Nam, Lào, Myanmar và Brunei cũng đã tham gia vào thị trường nhộn nhịp này với những chính sách ưu đãi cho các dự án năng lượng mặt trời. Mặc dù vẫn còn tụt hậu so với các khu vực khác trên toàn cầu về năng lượng sạch, nhưng với chiến lược phát triển mới, mục tiêu sản xuất 23% năng lượng tái tạo vào năm 2025 của khu vực ASEAN chắc chắn sẽ nằm trong tầm tay.

Việt Nam đang khuyến khích phát triển điện mặt trời

Bức xạ mặt trời là một nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng tại Việt Nam. Trung bình, tổng bức xạ năng lượng mặt trời ở Việt Nam vào khoảng 5kWh/m2/ngày ở các tỉnh miền Trung và miền Nam, và vào khoảng 4kWh/m2/ngày ở các tỉnh miền Bắc. Từ dưới vĩ tuyến 17, bức xạ mặt trời không chỉ nhiều mà còn rất ổn định trong suốt thời gian của năm. Số giờ nắng trong năm ở miền Bắc vào khoảng 1500-1700 giờ trong khi ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, con số này vào khoảng 2000-2600 giờ mỗi năm.

Nhìn một cách khái quát, lượng bức xạ mặt trời ở các tỉnh phía Bắc giảm 20% so với các tỉnh miền Trung và miền Nam, và lượng bức xạ mặt trời không phân phối đều quanh năm do vào mùa đông, mùa xuân mưa phùn kéo dài nên nguồn bức xạ mặt trời không đáng kể, chỉ khoảng 1 - 2kWh/m2/ngày, cản trở lớn cho việc lắp đặt điện mặt trời. Trong khi đó, các tỉnh phía Nam có mặt trời chiếu rọi quanh năm, ổn định kể cả vào mùa mưa. Vì vậy, bức xạ mặt trời là nguồn tài nguyên to lớn cho các tỉnh miền Trung và miền Nam.

 Những văn bản pháp lý liên quan đến ĐMT tại Việt Nam

Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam; Thông tư 16/2017/TT-BCT ngày 12/9/2017 quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời; Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg ngày 8/1/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam; Thông tư số 05/2019/TT-BCT ngày 11/3/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 16/2017/TT-BCT ngày 12/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời; Quyết định số 2023/QĐ-BCT ngày 05/7/2019 Phê duyệt Chương trình Thúc đẩy phát triển điện mặt trời mái nhà tại Việt Nam giai đoạn 2019-2025; Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg  ngày 06/4/2020 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam.

Sau 2 năm thực hiện Quyết định số 11/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam, ngành điện mặt trời ở Việt Nam đã bùng nổ, đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về thị trường điện mặt trời. Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tới thời điểm cuối tháng 5 năm 2020, tổng số lượng dự án điện mặt trời mái nhà là 31.506 tương ứng với giá trị công suất lắp đặt xấp xỉ 652 MWp sản lượng điện phát lên lưới đạt 185,683 triệu kWh. Khu vực công nghiệp chiếm 56% tổng công suất lắp đặt điện mặt trời mái nhà, xếp sau là khu vực hộ gia đình (28%), khu vực thương mại (11%) và hành chính sự nghiệp (5%). Các tỉnh và thành phố phía Nam (bao gồm Tp Hồ Chí Minh) vẫn duy trì là các địa phương dẫn đầu trong lắp đặt điện mặt trời mái nhà với cả hai tiêu chí là số lượng dự án và tổng công suất lắp đặt.

Mới đây, Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg, ngày 6/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam (Quyết định 13) chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 22/5/2020 để thay thế Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg hết hiệu lực từ ngày 30/6/2019. Theo đó, trong thời gian tới, điện mặt trời mái nhà vẫn được kỳ vọng phát triển mạnh.

Một trong những nội dung quan trọng mà người dân và khách hàng sử dụng điện quan tâm là giá điện mặt trời mái nhà từ sau thời điểm 30/6/2019. Căn cứ nội dung của Quyết định 13, các Tổng Công ty Điện lực sẽ thực hiện ký hợp đồng mua điện và thanh toán tiền điện đối với các dự án điện mặt trời mái nhà đã chốt chỉ số công tơ để bắt đầu giao nhận điện và thanh toán tiền điện kể từ ngày 01/7/2019.

Thứ nhất, nếu công trình có ngày vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019, giá mua điện từ các dự án điện mặt trời mái nhà áp dụng theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 11/4/2017 là 9,35 UScents/kWh, tương đương 2.164 VNĐ/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng và áp dụng trong vòng 20 năm.

Thứ hai, nếu công trình có thời điểm vận hành và xác nhận chỉ số công tơ trong giai đoạn từ ngày 1/7/2019 - 31/12/2020, giá mua điện từ các dự án điệt mặt trời mái nhà  áp dụng theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ là 8,38 UScents/kWh, tương đương 1.943 VNĐ/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng và áp dụng trong vòng 20 năm; tỷ giá trung tâm của đồng Việt Nam với đô la Mỹ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố áp dụng cho ngày cuối cùng của năm trước để tính tiền điện thanh toán cho năm tiếp theo.

Quyết định 13 của Thủ tướng Chính phủ chính thức có hiệu lực là "cú hích” tạo đà cho điện mặt trời mái nhà phát triển. Với nhiều lợi ích mang lại cho chính Chủ đầu tư cũng như cộng đồng, việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà những năm gần đây đã được người dân và doanh nghiệp quan tâm.


Cơ chế điện mặt trời áp mái: Giá thay đổi hằng năm, không theo hướng bù trừ?
Cơ chế điện mặt trời áp mái: Giá thay đổi hằng năm, không theo hướng bù trừ?

Cơ chế điện mặt trời áp mái: Giá thay đổi hằng năm, không theo hướng bù trừ?

  TTO - Phát triển điện mặt trời áp mái là để phục vụ tự dùng là chính nên sẽ quy định tỉ lệ tự dùng, giá điện được xây dựng trên cơ sở khung giá phát điện hằng năm được Bộ Công thương ban hành.

  Ngày 30-8, tọa đàm Điện mặt trời mái nhà khu công nghiệp: Tháo gỡ những bất cập trong triển khai lắp đặt do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) tổ chức theo hình thức trực tuyến.

Ông Phạm Nguyên Hùng - phó cục trưởng Cục Điện lực và năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) - cho biết hiện bộ đang xây dựng dự thảo khung của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế chính sách phát triển điện năng lượng tái tạo nói chung (bao gồm cả điện mặt trời mặt đất, điện mặt trời mái nhà, điện mặt trời nổi…).

Dự thảo sẽ được xây dựng theo hướng không hạn chế công suất, nhưng với điện mặt trời mái nhà sẽ đưa ra tỉ lệ tự dùng. Mục đích để không phải đầu tư thêm lưới điện, đảm bảo hệ thống điện mặt trời áp mái có tính phân tán, hạn chế phải truyền tải, tránh tổn thất điện năng và tăng đầu tư xã hội.

Với quan điểm phát triển điện mặt trời áp mái phục vụ tự dùng là chính, ông Hùng cho hay dự thảo cũng xây dựng giá điện theo hướng không duy trì giá cố định, mà dựa trên khung giá phát điện hằng năm được Bộ Công thương ban hành.

Hiện nay, bộ đang giao cho Cục Điều tiết điện lực nghiên cứu xây dựng thông tư về khung giá, phương pháp định giá phát điện mặt trời hằng năm để làm cơ sở xác định giá điện mặt trời. Mục tiêu đảm bảo sát giá thị trường, tránh chuyện thực hiện giá cố định (FIT) cho 20 năm như trước đây.

Ngoài ra, ông Hùng cũng cho hay cơ chế mua bán điện của các hộ lắp đặt điện mặt trời áp mái với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng không theo hướng bù trừ như trước. Thay vào đó, cơ chế mua bán điện được xác định trên cơ sở quy định của Bộ Tài chính, nên ở chiều mua/bán sẽ được thiết lập hai hóa đơn khác nhau để tách bạch hoạt động này.

Trước đó, ông Nguyễn Văn Thông - giám đốc phát triển dự án Công ty cổ phần VNG - cho biết đã lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời lắp đặt trên mái tòa nhà có công suất thiết kế 620.73kwp, đáp ứng 20% nhu cầu sản lượng điện cần cho tòa nhà.

Mặc dù có những lợi ích cho doanh nghiệp, như giúp giảm chi phí tiền điện tương ứng với sản lượng điện sinh ra cung cấp cho tòa nhà, giảm phát thải khí cacbon... ông Thông cho hay có nhiều vướng mắc trong triển khai, khi sản lượng điện sau khi cung cấp cho chính nhu cầu còn dư đã tải lên lưới điện hơn 200.000 kWh, tương đương 300 triệu đồng, nhưng chưa được điện lực trả tiền.

Lý do là ngành điện yêu cầu phải có đăng ký ngành nghề sản xuất điện để công ty xuất hóa đơn. Song doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đăng ký bổ sung ngành nghề do có vốn đầu tư nước ngoài, phải tuân thủ theo biểu cam kết WTO nên khó để đăng ký thêm ngành.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Dũng - trưởng ban kinh doanh (EVN) - cho rằng hiện Chính phủ chưa có chính sách mua điện với lượng điện phát từ dự án điện mặt trời áp mái ở các khu công nghiệp, nên EVN vẫn đang chờ hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Công thương để làm cơ sở hướng dẫn thực hiện thanh toán đối với các doanh nghiệp đã phát lên lưới.

Điện mặt trời tại Đà Nẵng: Tiềm năng lớn, được khuyến khích phát triển
Điện mặt trời tại Đà Nẵng: Tiềm năng lớn, được khuyến khích phát triển

Điện mặt trời tại Đà Nẵng: Tiềm năng lớn, được khuyến khích phát triển

Đà Nẵng khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng tái tạo

Các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, gió, sinh khối… đang được Đà Nẵng khuyến khích phát triển. Thành phố Đà Nẵng cũng khuyến khích, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân tham gia phát triển các dự án phát điện sử dụng năng lượng tái tạo nối lưới.

Điều này được thể hiện cụ thể trong Đề án Phát triển sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mới trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035 (phê duyệt tại Quyết định số 1737/QĐ-UBND, ban hành ngày 20/5/2021). Theo Đề án này, định hướng tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới trong tổng cung năng lượng sơ cấp trên địa bàn Thành phố đạt khoảng 9,71% vào năm 2025 và đạt 9,69% vào năm 2035. Riêng trong lĩnh vực điện năng lượng mặt trời, mục tiêu chung là đến năm 2025 tổng công suất lắp đặt toàn thành phố Đà Nẵng đạt 244,675 MW, đến năm 2035 là 577,49 MW.

Điện mặt trời tại Đà Nẵng đang được khuyến khích phát triển

Trước đó, thành phố Đà Nẵng đã đặt mục tiêu nâng tổng công suất lắp đặt điện mặt trời mái nhà trên toàn thành phố đến năm 2025 đạt 169,54 MW (khoảng 17,76% tiềm năng kỹ thuật); đến năm 2030 đạt 293,92 MW (khoảng 30,78% tiềm năng kỹ thuật) và đến năm 2035 đạt 402,24 MW (theo Đề án Phát triển điện mặt trời trên mái nhà thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035). Trong đó, Thành phố ưu tiên, khuyến khích phát triển điện mặt trời áp mái tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, mái nhà xưởng. Cũng theo Đề án này, Đà Nẵng sẽ điều kiện thuận lợi để các dự án đầu tư điện mặt trời mái nhà được hưởng các hỗ trợ về lãi suất vay theo Nghị quyết số 149/2019/NQ-HĐND ngày 12/7/2018 của HĐND thành phố.

Tiềm năng phát triển điện năng lượng mặt trời tại Đà Nẵng

Theo thống kê, số giờ nắng trung bình tại Đà Nẵng đạt khoảng 2.100  giờ/năm, cường độ bức xạ trung bình 4,89kWh/m2/ngày. Do đó, Đà Nẵng có nhiều tiềm năng phát triển điện mặt trời. Thực tế, thời gian qua, E-Solar đã lắp đặt nhiều hệ thống điện mặt trời áp mái cho các hộ gia đình, doanh nghiệp tại Đà Nẵng và các hệ thống đều cho hiệu quả vận hành rất tốt. Điều này không chỉ đảm bảo lợi nhuận kinh tế cho các chủ đầu tư mà còn là một thuận lợi để Đà Nẵng phát triển nguồn năng lượng sạch này như định hướng đã đề ra.

Một hệ thống điện mặt trời áp mái tại Đà Nẵng có hiệu quả vận hành rất tốt

Đặc biệt, để tham gia phát triển điện mặt trời, các doanh nghiệp sản xuất tại Đà Nẵng có thể tận dụng mô hình BLT (Build – Lease – Transfer) điện mặt trời. Đây là mô hình dành riêng cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp dùng điện sạch mà không phải bỏ vốn đầu tư.

Với mô hình BLT điện mặt trời, doanh nghiệp sẽ được sử dụng điện sạch với giá thấp hơn giá điện từ EVN, đảm bảo lợi ích tiết kiệm chi phí năng lượng hiệu quả cho doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp chỉ cần tận dụng mái nhà máy đang nhàn rỗi, hoàn toàn không chiếm dụng vốn đầu tư và nhân lực để triển khai – vận hành hệ thống. Doanh nghiệp sẽ được sở hữu toàn bộ hệ thống với công suất bảo đảm lên tới 80-90% sau thời hạn hợp đồng. Ngoài ra, với việc sử dụng điện mặt trời, doanh nghiệp còn nhận được nhiều lợi ích thiết thực khác như giảm nhiệt cho công trình; tăng độ bền, tuổi thọ mái nhà máy; thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững; giá tăng giá trị thương hiệu…

Đề xuất phát triển điện gió ngoài khơi
Đề xuất phát triển điện gió ngoài khơi

Đề xuất phát triển điện gió ngoài khơi

  Với bờ biển dài hơn 3.000 km, diện tích vùng biển hơn 1 triệu km2 cùng nhiều vùng gió có vận tốc và thời lượng tốt, VN được đánh giá có tiềm năng rất lớn để phát triển điện gió ngoài khơi.  

  Chi phí lưu trữ và truyền tải điện giảm  

  TS Đinh Văn Nguyên, Trưởng dự án phát triển năng lượng ngoài khơi toàn quốc của Cộng hòa Ireland, cho rằng với mô hình điện gió ngoài khơi, ưu điểm đầu tiên và lớn nhất là gió ngoài khơi mạnh vào ban ngày, thường phù hợp với nhu cầu điện. Vì vậy, chi phí cho lưu trữ và truyền tải điện gió ngoài khơi sẽ giảm thiểu hơn, đồng thời điện sa thải cũng thấp hơn. Điều này đã làm giảm khó khăn lớn nhất trong phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) là điện nền (thường phải dùng điện khí, điện than, hoặc một phần thủy điện). Thứ hai, gió ngoài khơi ổn định hơn và hệ số công suất cao hơn, có thể đạt 40 - 50% (ở VN), làm giảm chi phí sản xuất điện, tăng tuổi thọ hệ thống cơ khí, kết cấu...Về mặt kỹ thuật xây dựng và môi trường, điện gió ngoài khơi cũng cạnh tranh hơn các loại điện khác. Cụ thể, việc vận chuyển, lắp dựng các tua bin lớn (giảm chi phí sản xuất điện quy dẫn) dễ dàng bằng tàu/sà lan. Những tua bin lớn như 9 MW có cánh dài 80 m, 12 MW có cánh dài 107 m, việc vận chuyển trên đất liền gần như là bất khả thi, nhưng sẽ dễ dàng trên biển. Tương tự về mặt môi trường, phát thải CO2 của điện gió ngoài khơi là thấp nhất trong các dạng năng lượng, chỉ 16g CO2/kWhe). Trong khi thủy điện là 28g CO2/kWhe, hạt nhân 33g CO2/kWhe, điện khí gas 450g CO2/kWhe, và điện than 1.050g CO2/kWhe. Thêm vào đó, mô hình điện gió ngoài khơi hầu như không gây ảnh hưởng đến đời sống con người bởi tiếng ồn trong quá trình lắp dựng, vận hành, cản trở tầm nhìn, nhất là điện gió ngoài khơi hiện đại thường cách bờ trên 10 km.

Hấp dẫn hơn EU và Bắc Mỹ  

  TS Nguyễn Duy Khiêm, chuyên gia năng lượng của Trường đại học Quy Nhơn (Bình Định), cho biết bản thân từng nghiên cứu loại hình năng lượng này. Thời điểm đó, suất đầu tư ngoài khơi cao hơn đất liền một chút, nhưng về mặt kỹ thuật đo đếm, tốc độ gió trung bình ở trên các vùng biển VN rất thuận lợi.Hiện Chính phủ cũng có giá điện cho loại hình năng lượng này, việc truyền tải điện cũng không quá phức tạp và các nước cũng đã làm nhiều rồi. Vì thế, đây là mô hình hiệu quả và khả thi đặc biệt với điều kiện đất đai ở VN có giới hạn, việc tận dụng mô hình điện gió ngoài khơi sẽ tối đa hóa tài nguyên với dải bờ biển dài từ bắc tới nam.“Theo tôi được biết, các ngành chức năng đang soạn thảo Quy hoạch điện VIII (thay thế Quy hoạch điện VII, đã điều chỉnh). Theo quy hoạch mới này, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn được đưa lên tới 30%. Để năng lượng tái tạo phát triển đúng tỷ lệ đó thì phải đồng loạt đẩy mạnh phát triển tất cả các loại hình, trong đó điện gió ngoài khơi là một phần rất quan trọng. Đầu tiên phải xác định hướng chiến lược như vậy và sau đó có những cơ chế chính sách đi kèm”, TS Nguyễn Duy Khiêm đề xuất.TS Đinh Văn Nguyên nhận định: Trong tương lai, khi công nghiệp điện gió ngoài khơi cùng chuỗi sản xuất, lắp dựng, vận hành và bảo dưỡng đã phát triển thì điện gió ngoài khơi ở VN sẽ hấp dẫn hơn các vùng có khí hậu lạnh như EU, Bắc Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc. Bởi ở vùng biển VN tình trạng sóng và thời tiết tốt hơn nên giá thành kết cấu móng, trụ sẽ thấp hơn, các tua bin, cánh quạt sẽ có tuổi thọ cao hơn và chi phí cho lắp dựng và bảo dưỡng sẽ tốt hơn. Thêm vào đó, điện gió trên biển ở VN không có thời gian cánh quạt bị đóng băng (icing time) nên giúp tiết kiệm chi phí và tối đa hóa thời gian vận hành.Mặc dù vậy, TS Nguyên cũng lưu ý với điều kiện gió và địa hình biển ở VN, các trang trại gió (wind farm) cách bờ trên 20 km sẽ có lợi về kinh tế hơn so với ven bờ. Chi phí cho bảo dưỡng, sửa chữa tua bin, cáp trên biển lớn hơn nhiều so với trên đất liền nên để giảm thiểu các chi phí này, ngay từ giai đoạn lập dự án cần lưu ý dùng tua bin tốt, có uy tín và tránh tất cả các nhà sản xuất Trung Quốc (có số lượng bán ra nhiều nhưng chủ yếu là ở thị trường Trung Quốc, chưa có uy tín trên thế giới). Xây dựng trang trại gió lớn (500 MW trở lên) để có thể tạo thành chuỗi dịch vụ nhằm giảm chi phí bảo dưỡng.  

Quy hoạch điện VIII: Tăng điện than, gác điện gió
Quy hoạch điện VIII: Tăng điện than, gác điện gió

Quy hoạch điện VIII: Tăng điện than, gác điện gió

  Tại tờ trình mới nhất của Bộ Công thương, cơ cấu nguồn điện than đến năm 2030 sẽ tăng thêm 3.000 MW so với tờ trình gửi Chính phủ trước đó, và nguồn điện tái tạo sẽ giảm tới 6.000 MW.

  Năng lượng tái tạo giảm mạnh

Bộ Công thương vừa gửi lấy ý kiến các bộ, ngành dự thảo Quyết định của Thủ tướng về việc phê duyệt Quy hoạch phát điện điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 (gọi tắt là Quy hoạch điện VIII) với một số điều chỉnh đáng chú ý so với tờ trình hồi tháng 3.

Đầu tiên phải lưu ý rằng các thông số đầu vào phục vụ dự báo nhu cầu phụ tải không thay đổi, do đó kết quả dự báo nhu cầu phụ tải vẫn giữ nguyên so với Tờ trình số 1682 mà Bộ Công thương trình Chính phủ ngày 26.3.2021.Tuy nhiên, điểm thay đổi đáng chú ý nhất là cơ cấu các nguồn điện đã có sự dịch chuyển đáng kể.

Cụ thể, theo kịch bản cơ sở, với nhiệt điện than, dự kiến đến năm 2030 công suất đặt vào khoảng 40.650 MW, tăng hơn 3.070 MW so với tờ trình trước. Một nguồn điện khác cũng tăng là thủy điện nhưng không đáng kể với hơn 600 MW. Các loại nguồn tuabin khí hỗn hợp và nhiệt điện khí dùng LNG vẫn giữ nguyên (gần 14.800 MW).

Điện mặt trời cũng giữ nguyên với mức 18.640 MW.

Ở chiều ngược lại, công suất đặt của điện gió giảm tới xấp xỉ 4.200 MW, trong đó điện gió ngoài khơi giảm 2.000 MW, tức là về 0 trong tờ trình điều chỉnh (giai đoạn đến 2030).

Điện sinh khối và năng lượng tái tạo khác cũng giảm khoảng 2.000 MW.

Trả lời câu hỏi của Thanh Niên, đại diện Bộ Công thương cho hay dự thảo này đã bám sát các chỉ đạo của Chính phủ sau khi Chính phủ xem xét tờ trình tháng 3 và liên tục có những thông báo yêu cầu rà soát với các mục tiêu như cân bằng cao nhất cung - cầu nội vùng; giảm thiểu truyền tải xa, phân tích tính kinh tế, kỹ thuật và giá điện. “Sau khi lấy ý kiến, Hội đồng thẩm định bổ sung, chúng tôi sẽ hoàn thiện và dự kiến trình lên Chính phủ trong tháng 9 này”, vị này cho hay.Vì “đề bài” hẹp?

Trao đổi với Thanh Niên, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp đã tìm cách lý giải cho sự thay đổi này. Ông Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm năng lượng và tăng trưởng xanh, cho rằng kết quả này là dễ hiểu nếu nhìn vào đầu bài mà Chính phủ đặt ra cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch. “Với các điều kiện như giảm chi phí truyền tải xa, đảm bảo cân đối nội vùng và chi phí giá điện thì rõ ràng nhiệt điện than có nhiều ưu thế nhất. Giả sử giá than thế giới có tăng gấp đôi đi nữa thì vẫn rẻ hơn điện khí. Còn yếu tố cân bằng nội vùng thì rõ ràng điện gió, điện mặt trời ở nhiều địa phương đã thừa, còn than thì việc cơ động vị trí là rất rõ. Chúng tôi cũng chạy mô hình để tính toán nên rõ ràng với đề bài hẹp như trên thì kịch bản và tư vấn đưa ra là tối ưu”, ông Sơn nói.Tuy nhiên, ông Sơn cũng cảnh báo rằng vấn đề các tổ chức quốc tế giảm cho vay với các dự án điện than sẽ khiến tính khả thi trong thực hiện sẽ gặp khó. “Có lẽ tư vấn giả định các dự án này sẽ thu xếp được vốn. Còn trong trường hợp các dự án bị chậm, thậm chí rất chậm họ cũng phải để lại trong quy hoạch, vì gạt ra là thẩm quyền cao hơn nhiều nên điện than tăng cũng là dễ hiểu”, ông Sơn giải thích.Ông Sơn nhấn mạnh rằng nếu đề bài rộng hơn, ví dụ vì vấn đề an ninh không gian biển, hoặc để thực hiện các cam kết về tăng trưởng xanh, Chính phủ mở thêm yêu cầu tư vấn tính toán rằng nếu phải làm 2.000 hoặc 3.000 MW điện gió ngoài khơi thì chi phí cho hệ thống tăng lên thế nào, cần xây thêm bao nhiêu ki lô mét đường truyền tải... thì lời giải cho bài toán cơ cấu nguồn sẽ phong phú hơn.

Dự thảo này đang khiến không ít doanh nghiệp năng lượng tái tạo đứng ngồi không yên, nhất là trong bối cảnh mới đây các hiệp hội năng lượng VN, năng lượng tái tạo liên tục có kiến nghị nới quy hoạch, nhất là cho điện gió, thậm chí có đề xuất lên đến tận 10.000 MW.Trên thực tế, nếu dự thảo được thông qua thì đồng nghĩa với việc rất nhiều dự án đang triển khai nghiên cứu sẽ không “đủ chỗ”.

Ví dụ, riêng dự án điện gió ngoài khơi La Gàn (Bình Thuận) vừa liên tục công bố ký kết các hợp đồng khảo sát địa chất với các nhà thầu trong nước đã có công suất lên tới 3.500 MW. Hay một dự án khác cũng được truyền thông rầm rộ thời gian qua là điện gió Thăng Long (Kê Gà, Bình Thuận) có công suất 3.400 MW...

Đại diện Hội đồng năng lượng gió toàn cầu (GWEC) nhận xét rằng nhiều khả năng các vấn đề về tiến độ dự án nhiệt điện than trong Quy hoạch điện VII điều chỉnh sẽ khó có thể giải quyết kể cả khi được chuyển tiếp sang Quy hoạch điện VIII, đặc biệt trong bối cảnh châu Á cũng đang chuyển dịch sang hướng giảm phát thải, cũng như việc cộng đồng tài chính quốc tế đang quyết tâm rút lui khỏi các dự án năng lượng hóa thạch.

Theo GWEC, mỗi 3.000 - 4.000 MW điện gió ngoài khơi được xây dựng sẽ giúp giảm chi phí từ trên 20%. Bằng chứng là trong thập niên qua, chi phí sản xuất đã giảm hơn 60% trên phạm vi toàn cầu và GWEC khuyến nghị: “Quy hoạch điện VIII là thời điểm để VN có thể bắt đầu phát triển loại năng lượng này như một biện pháp dự phòng hữu hiệu cho các nguồn điện gặp rủi ro về tiến độ khác”.  (Thanhnien)

Xu hướng điện mặt trời năm 2021 khi không còn FIT 2
Xu hướng điện mặt trời năm 2021 khi không còn FIT 2

Xu hướng điện mặt trời năm 2021 khi không còn FIT 2

Vài năm trở lại đây, điện mặt trời có sự tăng trưởng vượt bậc nhờ các chính sách khuyến khích của Chính phủ với cơ chế giá hấp dẫn. Chính vì thế, khi Quyết định 13 với giá FIT 2 đã hết hiệu lực, giá mới cho điện mặt trời áp mái theo dự thảo có thể giảm tới 30%, nhiều người đã đặt câu hỏi liệu có nên đầu tư điện mặt trời?

Giá bán hấp dẫn, điện mặt trời tăng trưởng rất nhanh

Trong khi đã phát triển trên thế giới được vài thập niên, tại Việt Nam, điện mặt trời mới được chú ý những năm gần đây và đặc biệt có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong vòng 2-3 năm nay. Có thể nói động lực chính của sự tăng trưởng vượt bậc ấy đến từ giá bán điện mặt trời hấp dẫn với cơ chế khuyến khích của Chính phủ.

Từ công suất không đáng kể, giá FIT (theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ) đã mang đến hơn 4,46 GW điện mặt trời cho thị trường điện Việt Nam tính đến hết ngày 30/6/2019 – chiếm tỷ lệ 8,28% công suất lắp đặt của hệ thống điện thời điểm đó. Giá FIT 2 (theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ) tiếp tục là “cú hích”, nâng tổng công suất lắp đặt điện mặt trời trên cả nước (tính đến hết ngày 31/12/2020) lên đạt khoảng 19.400 MWp (tương đương 16.500 MW), chiếm khoảng 25% tổng công suất lắp đặt nguồn điện của hệ thống điện Quốc gia. Điện mặt trời trở thành lĩnh vực hút vốn đầu tư hàng đầu, đối với các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của điện mặt trời trong vòng vài năm đã giúp bổ sung nguồn điện sạch dồi dào cho hệ thống, trong bối cảnh tình trạng thiếu điện nghiêm trọng có nguy cơ hiện hữu và việc chuyển dịch cơ cấu năng lượng sang năng lượng sạch, giảm phát thải khí nhà kính đã trở thành xu hướng toàn cầu. Tuy nhiên, việc tập trung nhiều dự án điện mặt trời tại một số tỉnh có tiềm năng phát triển điện mặt trời tốt nhất (số giờ nắng trong năm cao, lượng bức xạ mặt trời lớn) trong khi nhu cầu tiêu thụ điện tại chỗ thấp đã gây áp lực lên hệ thống truyền tải và phân phối điện. Đây không chỉ là bài toán đặt ra cho đơn vị vận hành điện mà cho cả các nhà đầu tư khi muốn tối ưu lợi nhuận từ điện mặt trời.

Điện mặt trời phân tán ở khu vực phụ tải cao: Xu hướng và cơ hội

Điện mặt trời nói riêng, năng lượng tái tạo nói chung không chỉ giúp giải quyết bài toán năng lượng cho ngành điện, mà còn mang lại những lợi ích cho môi trường và xã hội, đồng thời giúp Việt Nam thực hiện các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính và tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo. Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (theo Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị) cũng nêu rõ: “Ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch”.

Tuy nhiên, theo dự thảo cơ chế giá điện mặt trời áp mái mà Bộ Công Thương đang hoàn thiện và trình Chính phủ để thay thế cho Quyết định 13 đã hết hiệu lực, giá điện mặt trời áp mái có thể giảm khoảng 30% so với mức hiện tại. Theo đánh giá, mức giá này dù không còn hấp dẫn như FIT 2 nhưng vẫn đảm bảo lợi nhuận cho nhà đầu tư. Điều quan trọng, chính sách này khuyến khích các nhà đầu tư là các doanh nghiệp phát triển năng lượng sạch phục vụ hoạt động kinh doanh, sản xuất. Vì thế, điện mặt trời phân tán ở khu vực phụ tải cao (như tại các tỉnh thành phát triển công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất…) với hình thức tự sản xuất – tự tiêu thụ được nhận định sẽ phát triển mạnh hơn trong thời gian tới.

Theo ghi nhận thực tế , điện mặt trời ngày càng nhận được sự quan tâm của các doanh nghiệp, kể cả khi đã không còn FIT 2. Đó là bởi, với các doanh nghiệp, việc sử dụng năng lượng sạch không chỉ đơn thuần là bài toán kinh tế trực tiếp từ việc giảm hóa đơn tiền điện hay bán điện dư mà quan trọng hơn là một giải pháp hướng tới sản xuất xanh, phát triển bền vững, mở ra các cơ hội cạnh tranh trên thị trường, nhất là những thị trường quốc tế “khó tính”. Chính vì vậy, bên cạnh hình thức doanh nghiệp tự đầu tư hệ thống điện mặt trời trên mái nhà máy, mô hình BLT (Build – Lease – Transfer) điện mặt trời cũng ngày càng được ưa chuộng. Mô hình này giúp doanh nghiệp đạt được tất cả những mục đích trên mà không phải bỏ vốn đầu tư ban đầu, chỉ cần tận dụng mái nhà xưởng đang nhàn rỗi. Doanh nghiệp cũng không phải quan tâm đến công tác vận hành bảo dưỡng trong suốt thời gian hợp đồng. Hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp đang tận dụng mô hình này trong lộ trình “xanh hóa”.

Việc phát triển điện mặt trời phân tán ở khu vực phụ tải cao đồng thời sẽ giúp giảm áp lực đầu tư lưới truyền tải và phân phối điện. Nếu kết hợp với các giải pháp lưu trữ năng lượng và hệ thống giám sát điều khiển – thu thập số liệu mini SCADA, đây sẽ là “chìa khóa” giúp năng lượng tái tạo ngày càng phát triển bền vững ở Việt Nam.

Tại Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến về khí hậu (tháng 4/2021) với sự tham gia của lãnh đạo 40 quốc gia, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh cam kết của Việt Nam là đến năm 2030 sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính bằng nguồn lực trong nước và giảm đến 27% khi có hỗ trợ quốc tế song phương, đa phương. Chủ tịch nước cũng cho biết Việt Nam sẽ tăng nhanh tỷ lệ năng lượng tái tạo lên 20% tổng nguồn cung sơ cấp vào 2030 và đạt 30% đến 2045; mức độ phát thải trên tổng GDP đến 2030 giảm gần 15% và phát thải khí Metan trong sản xuất nông nghiệp giảm đến 10%.  
Vận hành và bảo dưỡng điện gió: Thị trường “tỷ đô”
Vận hành và bảo dưỡng điện gió: Thị trường “tỷ đô”

Vận hành và bảo dưỡng điện gió: Thị trường “tỷ đô”

 Điện gió toàn cầu tiếp tục đà tăng trưởng ấn tượng, kéo theo sự phát triển của thị trường vận hành và bảo dưỡng (O&M) điện gió. Trong đó, nhiều cơ hội mới được mở ra cho lĩnh vực đang trong buổi “sơ khai”: điện gió ngoài khơi.

 Điện gió tăng trưởng kỷ lục

Cùng với năng lượng mặt trời, điện gió là nguồn năng lượng tái tạo đang tăng trưởng mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tổng công suất điện gió năm 2020 là gần 743 GW, tăng 93 GW so với năm 2019. Với mức tăng 53% so với cùng kỳ năm trước, năm 2020 ghi nhận mức tăng trưởng kỷ lục, cao nhất trong lịch sử của ngành công nghiệp điện gió toàn cầu.

Trung Quốc, Mỹ, Đức, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Brazil… là các quốc gia đang dẫn đầu về công suất lắp đặt điện gió. Trong đó, Trung Quốc và Mỹ là hai thị trường đang có những bước tiến dài nhất. 75% số lượng nhà máy điện gió mới được lắp đặt trong năm 2020 thuộc hai thị trường này. Nếu xét theo khu vực, ngoài thị trường châu Âu, khu vực châu Á Thái Bình Dương được dự báo sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng ngành điện gió.

Trong xu hướng chuyển dịch sang năng lượng sạch, điện gió vẫn đang là lựa chọn hàng đầu. Trong đó, điện gió ngoài khơi có tiềm năng phát triển rất lớn. Tuy còn đang trong giai đoạn sơ khai, hiện chỉ có 35,3 GW nhưng điện gió ngoài khơi cũng đang tăng trưởng rất nhanh. Tổng công suất lắp đặt mới năm 2020 là hơn 6 GW – giúp công suất điện gió ngoài khơi tăng 106% chỉ trong 5 năm. Theo nhận định của Cơ quan Năng lượng tái tạo Quốc tế (IRENA), thị trường điện gió khơi thế giới năm 2050 có thể đạt 1.000 tỷ USD.

Sự tăng trưởng mạnh mẽ về công suất lắp đặt kéo theo thị trường vận hành và bảo dưỡng điện gió cũng phát triển, ở cả mảng điện gió trên bờ (onshore) và điện gió ngoài khơi (offshore). Trong đó, đang có nhiều cơ hội mới được mở ra cho lĩnh vực đang trong buổi “sơ khai”: điện gió ngoài khơi.

O&M điện gió ngoài khơi dự kiến tăng trưởng trung bình 16%/năm

Theo báo cáo của đơn vị chuyên nghiên cứu, phân tích dữ liệu ngành năng lượng Wood Mackenzie, thị trường O&M điện gió ngoài khơi (offshore wind O&M) dự kiến sẽ đạt 12 tỷ USD vào năm 2029, mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 16%. Trong đó, Trung Quốc được dự báo sẽ vượt qua Anh, trở thành thị trường O&M điện gió ngoài khơi lớn nhất toàn cầu với quy mô 2 tỷ USD. Tính theo khu vực, châu Âu vẫn là thị trường O&M lớn nhất, dự kiến đạt 6,6 tỷ USD vào năm 2029. Ngoài ra, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thị trường điện gió ngoài khơi Mỹ cũng sẽ mang lại nhiều cơ hội mới. Các cơ hội trong thị trường “tỷ đô” này sẽ mở ra cho cả những đơn vị hiện tại và những gương mặt mới bước chân vào ngành.

Theo phân tích của Wood Mackenzie, các tuabin gió có công suất ngày càng lớn, những đổi mới về thiết kế và chế tạo của chúng đồng thời đòi hỏi nhiều yêu cầu về vận hành và bảo dưỡng định kỳ hơn. Sự gia tăng về mức độ phức tạp của tuabin cũng như quy mô dự án cũng là tiền đề khiến hoạt động O&M ngày càng phát triển. Các chuyên gia của Wood Mackenzie cho rằng, khi các nhà sản xuất dành nhiều nguồn lực hơn cho dịch vụ O&M đối với các mẫu tuabin mới hơn với công suất lớn hơn, việc bảo trì các tuabin hoạt động lâu năm sẽ mở ra cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ độc lập và đội ngũ kỹ sư nhỏ lẻ.

Chi phí O&M điện gió sẽ ngày càng giảm nhờ vào việc ứng dụng công nghệ số. Trước đó, việc triển khai các tàu dịch vụ vận hành linh hoạt, ứng dụng máy bay không người lái, máy ảnh, các công nghệ kỹ thuật số giúp quản lý từ xa đã giúp chi phí hoạt động (OPEX)/MW giảm 44% trong vòng 8 năm qua. Wood Mackenzie dự báo rằng, chi phí này trong lĩnh vực điện gió ngoài khơi sẽ giảm trung bình 20% ở giai đoạn 2020-2029 nhờ sự hỗ trợ của các công nghệ AI, big data…

Tại Việt Nam, điện gió đang ở giai đoạn đầu phát triển. Theo số liệu từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tính đến hết ngày 03/8/2021, có 21 nhà máy điện gió với tổng công suất 819 MW đã vào vận hành thương mại và 106 nhà máy điện gió (tổng công suất 5655,5 MW) đã gửi văn bản, hồ sơ đăng ký chương trình đóng điện và hòa lưới, thử nghiệm, đề nghị công nhận vận hành thương mại (COD), dự kiến sẽ đưa vào vận hành thương mại trước ngày 31/10/2021.

Điện gió và các nguồn điện năng lượng tái tạo khác cũng đang được ưu tiên phát triển, thể hiện rõ trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia (Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị) cũng như trong dự thảo Quy hoạch điện VIII. Chính vì vậy, thị trường O&M điện gió tại Việt Nam cũng được dự báo sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới.